Các
hoạt động thương mại, vận tải và dịch vụ logistics tập trung chủ yếu ở
hai vùng kinh tế quan trọng: Đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu
Long. Mặc dù Đà Nẵng đang nổi lên như một vùng kinh tế trọng điểm thứ ba
nhưng hoạt động thương mại trong vùng cũng như liên vùng chưa thể so
sánh với hai vùng trên. Chủng loại hàng hóa trong khu vực miền Trung
cũng chưa đa dạng khi chỉ mới tập trung chủ yếu vào ngành công nghiệp
hóa dầu và các sản phẩm từ dầu.
Hiện
tại, lượng hàng vận chuyển là hàng khối lớn có giá trị thấp (bao gồm
gạo, mía đường, gỗ, sắt thép, vật liệu xây dựng, xi măng, phân bón,
than, dầu và các sản phẩm công nghiệp) chiếm khoảng gần 80%; trong khi
hàng vận chuyển là hàng có giá trị cao (như hàng sản xuất trong nhà máy,
thủy hải sản, hay các sản phẩm động vật) chỉ chiếm khoảng hơn 20%. Điều
này lý giải cho việc cho đến nay, hệ thống dịch vụ vận tải và logistics
của Việt Nam, mặc dù còn nhiều hạn chế, nhưng vẫn đáp ứng được nhu cầu
từ sự tăng trưởng nhanh chóng của nền kinh tế do ưu thế cạnh tranh chủ
yếu về cước vận tải (là yếu tố chính trong vận tải hàng khối lớn) hơn là
chất lượng dịch vụ logistics.
Tuy nhiên cơ cấu này sẽ thay đổi nhanh chóng trong tương lai gần, khi Việt Nam
đang dần trở thành nước sản xuất và cả tiêu thụ, các mặt hàng có giá
trị cao. Số liệu thống kê gần đây cho thấy tốc độ tăng trưởng thương mại
của hàng vận chuyển bằng container (hàng có giá trị cao) cao hơn gần
gấp 2 lần so với các mặt hàng khác. Tốc độ tăng trưởng về nhu cầu vận
tải bằng phương thức vận tải đường bộ, là phương thức vận tải tiết kiệm
thời gian hơn cũng tăng gấp gần 1,5 lần so với phương thức vận tải thủy
nội địa.
Thiếu quy hoạch đồng bộ về cung - cầu
Tuy chưa có số liệu cụ thể nhưng các báo cáo nghiên cứu gần đây cho thấy, mức chi phí logistics hàng năm của Việt Nam
chiếm khoảng 20-25% GDP. Nếu so sánh với chi phí logistics của các nước
phát triển hoặc của trung bình các nước trên toàn thế giới thì hiện chi
phí về logistics của Việt Nam
đang cao hơn từ 10-15% tính trên GDP. Nếu lấy GDP của Việt Nam năm 2012
tương đương khoảng 140 tỷ USD, có thể thấy, việc cải thiện và phát
triển hiệu quả ngành logistics sẽ đem lại một nguồn lợi rất lớn cho nền
kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, con số này cũng chỉ ra những thách thức mà
ngành logistics đang phải đối mặt và cần có những biện pháp tích cực
nhằm cải thiện và phát triển trong tương lai.
Quá
trình tư nhân cổ phần hóa trong lĩnh vực vận tải đường bộ diễn ra nhanh
chóng với hơn 90% thị phần hiện nay do các doanh nghiệp thuộc khu vực
tư nhân cung cấp. Song, việc thiếu quy hoạch hay chính sách của cơ quan
quản lý nhà nước trong việc phát triển đội xe cũng như việc thiếu kiểm
soát về số lượng xe tối thiểu đối với một doanh nghiệp đã dẫn đến sự
cạnh tranh không lành mạnh giữa các đơn vị cung cấp dịch vụ vận tải và
hậu quả là chất lượng dịch vụ kém. Điều này cũng diễn ra tương tự trong
vận tải thủy nội địa khi việc thiếu định hướng trong quy hoạch đã dẫn
đến việc nguồn cung tăng trưởng nhanh hơn gần gấp 2 lần so với nhu cầu
trong những năm vừa qua.
Bên
thứ ba cung cấp dịch vụ logistics (3PL), tỷ lệ tăng trưởng cao, cả về
doanh thu lẫn số lượng doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này, cũng
đã được ghi nhận. Tuy vậy, hầu hết các doanh nghiệp 3PL của Việt Nam đều
có quy mô nhỏ, thiếu cả về kinh nghiệm cũng như nguồn lực tài chính cho
việc hoạt động trong lĩnh vực này. Hơn nữa, việc khó tiếp cận các nguồn
tài chính cũng là điểm hạn chế của các doanh nghiệp 3PL Việt Nam. Điều này đã hạn chế đáng kể việc cung cấp dịch vụ logistics có chất lượng cao của các doanh nghiệp 3PL Việt Nam.
Đây cũng là lý do chính cho việc cần tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa
cho các doanh nghiệp quốc tế hoặc độc lập hoặc liên danh được hoạt động ở
thị trường Việt Nam.
Ngành dịch vụ cung cấp kho bãi của Việt Nam
mới chỉ dừng lại ở việc chứa hàng đơn thuần chứ chưa cung cấp các dịch
vụ gia tăng như trung chuyển, gia tăng giá trị hàng hóa hay bốc dỡ. Hay
như việc cung cấp các kho lưu trữ và dịch vụ đi kèm cho các mặt hàng
đông lạnh - là những mặt hàng có giá trị cao - hiện cũng đang hạn chế.
Tất cả những điều này khiến ngành công nghiệp dịch vụ logistics của Việt
Nam, hoặc là không thể đáp ứng được yêu cầu của một nền kinh tế đang
tăng trưởng nhanh, hoặc không thể cung cấp dịch vụ có chất lượng theo
yêu cầu.
Một
điểm cốt lõi nữa làm ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ vận tải và
logistics của Việt Nam, đó chính là những hạn chế về cơ sở hạ tầng, đặc
biệt là cơ sở hạ tầng giao thông vận tải. Rất nhiều các quy định hiện
hành là nguyên nhân chính dẫn đến việc làm tăng chi phí cũng như giảm
hiệu quả của dịch vụ vận tải và logistics. Hơn nữa, việc đầu tư không
đồng bộ cũng dẫn đến việc làm giảm hiệu quả khai thác của các công trình
hạ tầng giao thông. Một ví dụ có thể nêu ra ở đây là việc đầu tư cảng
nước sâu Cái Mép - Thị Vải, nhưng lại thiếu đầu tư cho các công trình
kết nối (cả đường bộ và đường thủy nội địa) và các công trình/ thiết bị
phụ trợ như kho bãi, thiết bị bốc dỡ hàng... đảm bảo cho việc khai thác
cảng hiệu quả. Chính vì vậy mà công suất khai thác cảng Cái Mép - Thị
Vải cho đến nay mới chỉ đạt khoảng 18% so với công suất thiết kế.
Các khuyến nghị
Đó
là: Hiện đại hóa hệ thống hải quan; đảm bảo các quy định của Chính phủ
và các hoạt động liên quan đến thương mại quốc tế được giải thích, áp
dụng và thi hành một cách minh bạch, nhất quán, giảm thiểu sự quan liêu;
quy hoạch các dự án cơ sở hạ tầng giao thông vận tải đa phương thức sử
dụng phương pháp tiếp cận hành lang chiến lược; thúc đẩy một nền công
nghiệp vận tải đường bộ chuyên nghiệp thông qua việc cải tiến những quy
định; thúc đẩy cơ hội mở rộng kinh doanh tại Cái Mép - Thị Vải.
Các
khuyến nghị trên nhằm giúp Chính phủ nắm rõ hơn những hạn chế liên quan
đến chính sách và đầu tư cơ sở hạ tầng vận tải hàng hóa, từ đó tìm ra
những biện pháp cần thiết nhằm làm giảm chi phí logistics, hợp lý hóa và
làm cho các chính sách liên quan đến thương mại và hoạt động khai thác
được minh bạch hơn, cũng như giảm thiểu việc tắc nghẽn trong dịch vụ vận
tải. Thúc đẩy việc quy hoạch các dự án cơ sở hạ tầng theo hành lang
chiến lược sẽ giúp cho các dự án đầu tư thực sự mang lại lợi ích cho
người sử dụng hệ thống giao thông vận tải. Hỗ trợ các cảng nước sâu ở
Cái Mép – Thị Vải cũng sẽ cho phép Việt Nam cung cấp dịch vụ trực tiếp
đến các chủ hàng có các đội tàu container trọng tải lớn hoạt động trên
các tuyến đường biển thương mại then chốt.
Việc
triển khai các đầu tư ưu tiên trong 5-10 năm tới sẽ có tác động tích
cực đến chi phí chuỗi cung ứng của các chủ hàng và làm cho Việt Nam trở
thành một quốc gia có khả năng thu hút được nhiều hoạt động đầu tư kinh
doanh hơn cũng như làm giảm chi phí cho các sản phẩm tiêu thụ trong
nước. Do vậy, có thể tạo đà cho Việt Nam hướng tới mục tiêu cao nhất là phát triển kinh tế bền vững và cải thiện đời sống của người dân.
Theo
Báo Công Thương Điện Tử